Viết cho vở “Bao giờ sông cạn” – Sân khấu kịch Hoàng Thái Thanh

(Tặng những ai yêu kịch nói)

Tín đồ kịch nói, tận dụng khoảng thư thả còn lại của Tết, để xem một vở chính kịch biết rằng sẽ có nhiều nước mắt vào ngày…14/2 – đi xem một mình để “cảm” một cách trọn vẹn.

Đã đọc tác phẩm “Dòng nhớ” của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, đặc biệt thích vì bối cảnh đậm chất miền Tây mênh mông sông nước, đặc biệt thương cảm số phận “lắt lay” của các nhân vật để giữ vẹn cái nghĩa cái tình, đặc biệt xúc động với những câu hát ngọt lịm mà não lòng của bài vọng cổ “Nhớ sông” của tác giả Trúc Linh… tôi đến với “Bao giờ sông cạn” để một lần nữa đắm mình vào tất cả những điều đẹp đẽ đến mãnh liệt được thể hiện với một thể loại ngôn từ đặc biệt khác – kịch nói.

Được nghệ sĩ Hạnh Thúy (viết ít nhưng khá cầu toàn) cảm tác từ “Dòng nhớ”, đạo diễn Ái Như, với sự thể hiện của những cây đa cây đề như chú Thành Hội, cô Ái Như, cô Xuân Hương, chị Tuyết Thu và những gương mặt trẻ đang dần đến độ chín như Đoàn Thanh Tài, Tuyết Mai, Hoàng Vân Anh… những tên tuổi đủ để đảm bảo sân khấu chật kín ghế, bao gồm cả đôi ba mươi ghế đột xuất. Có thể nói đây là một vở diễn đẹp: đẹp từ nội dung đến cảnh trí, đẹp từ số phận con người đến cách các nghệ sĩ sống với nhân vật của mình, đẹp từ vóc dáng của diễn viên đến đài từ của họ… Đẹp vì bình dị, đẹp vì thật, đẹp vì những giọt mồ hôi trên sàn tập, những giọt nước mắt trong đêm diễn…

Hoàng Thái Thanh – một trong những sân khấu kịch có uy tín ở thành phố Hồ Chí Minh, có thể tạo nên cái gật đầu của những khán giả khó tính nhất hay các hội đồng nghệ thuật với chuyên môn cao nhất. Người ta đến với Hoàng Thái Thanh có thể vì nhiều lý do khác nhau; nhưng không khó để nhận ra nét “duyên ngầm”, cuốn hút “ngầm” ở Hoàng Thái Thanh là sự chỉn chu, sự nghiêm túc, sự đầu tư, sự kiên trì với dòng nghệ thuật mình chọn… Đến và ở lại có thể vì chiều sâu của các vở diễn, vì cách dàn dựng tinh tế, có điểm nhấn; đến và ở lại có thể vì những cảm xúc mãnh liệt, thăng hoa có được; đến và ở lại có thể vì đâu đó cảnh đời mình tái hiện; đến và ở lại cũng có thể do còn thiếu một chút gì đó…

Tôi cũng nói với “bạn kịch” của mình: không chỉ tình yêu dữ dội mới có thể níu giữ bước chân ta mà một tình yêu nhẹ nhàng nhưng âm ỉ, bền bỉ vẫn có thể làm ta không rời được. Và như những giọt nước nhỏ, thấm từng ngày, từng ngày…

Trở lại “Bao giờ sông cạn”. Được ưu ái diễn lại trong một ngày đặc biệt – không phải vì là Valentine, mà là sinh nhật lần thứ 6 của SK Hoàng Thái Thanh, nhưng “Bao giờ sông cạn” cũng đã chứng minh được sức hút của mình qua những tiếng thút thít, thậm chí là những đợt vai run lên (của những khán giả nam, ngồi phía trước tôi), hoặc như những khoảng lặng – chùng xuống – như tận cùng sâu thẳm của khán phòng rộng lớn; qua sự hiện diện của những tên tuổi làng kịch là đồng nghiệp của cô Ái Như, chú Thành Hội với những tràng pháo tay thật lâu, với cánh tay cao trên đầu; và những cái cúi mình trân trọng chào các nghệ sĩ khi vở kịch kết thúc của khán giả, trong đó có tôi…

Vẫn còn đó cách diễn hiền lành, cam chịu của chị Tuyết Thu; vẫn còn đó cách diễn nhẹ nhàng (như không có gì làm khó được) nhưng giằng xé ruột gan người xem của cô Ái Như; vẫn còn đó cách diễn nhuần nhuyễn và có hồn hơn của một Đoàn Thanh Tài và một Hoàng Vân Anh; vẫn còn đó cái “vô duyên” của “gái già Tư Mắm” mà vẫn khiến người ta xót xa, rưng rức khi ông Út “tỏ tình” gần cuối vở; và đặc biệt… vẫn còn đó cái “tưng tửng”, như không cần gì, cái mộc mạc đến nỗi đôi khi trở thành thô lỗ đậm chất ông già miền Tây hoài niệm… của chú Thành Hội…

Vẫn còn đó giọng hát ấm nhưng buồn và sâu hun hút của Thái Hòa khi thể hiện ca khúc chủ đề của vở – “Ru đời đã mất” của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.https://wpcomwidgets.com/?0=src%3D%22https%3A%2F%2Fmp3.zing.vn%2Fembed%2Fsong%2FIWZBAEBF%3Fstart%3Dtrue%22width%3D%22410%22&height=100&width=450&_tag=gigya&_hash=ffc617c59f0f334465ac2835bce10333

Ừ thì ru đi – một cuộc đời đã mất, nhiều cuộc đời đã mất, không kể là đàn ông hay đàn bà.

Ừ thì ru đi – chuyện lòng người héo hắt, như nắng tắt bên bến sông chiều dài nỗi oán mà thương.

Ừ thì ru đi – những tin yêu lay lắt, sống mòn để giữ vẹn ân tình nhân nghĩa trước sau.

“Ta biết em đêm đêm chờ đợi tiếng hát. Ta biết em đêm đêm ru đời đã mất. Nghe tiếng em run theo từng ngọn gió bấc sang mùa.”

Ừ thì ru đi – những phận người đớn đau vì họ sống vì nhau…

“Ta thấy em bâng khuâng vì ngọn lá úa. Ta thấy em lênh đênh trên dòng nước lũ. Nghe tiếng em vang trong một ngày bão tố ra đời.”

Ru mình, ru con… bằng chính tiếng à ơi đưa nôi đầu vở của danh ca Bạch Yến – trầm đục, không mượt mà, ngắt quãng không cố ý lại vô tình có một dụng ý rất riêng – phận người cũng thô sơ và gân guốc như vậy… chạm khắc lên bức tường loang lỗ những nét cắt thời gian – tưởng như chẳng có gì đẹp để hoài niệm hóa ra lại day dứt, khắc khoải khôn nguôi…

Từng chi tiết được chăm chút, được gửi gắm dẫn khán giả vào một không gian đẹp của sự hi sinh lẫn những vùng vẫy trong cảnh đời ngang trái. Vở không có nhân vật xấu, không có đỉnh cao tội ác hay tàn nhẫn; mà sao nỗi đau được đẩy đến không cùng.

Chỉ có điều, nửa sau của vở lại cho cảm giác thiếu một chút tròn đầy, làm cảm xúc của người xem không thăng hoa trọn vẹn được. Có lẽ bởi những trường đoạn trước đó đã đạt được đỉnh điểm thấu cảm do được đẩy lên cao trào rất khéo léo, rất tự nhiên. Còn những phân cảnh sau lại ngắn; khán giả dễ dàng nhận ra dụng ý của tác giả là cố đẩy hơn nữa, tăng hơn nữa tính bi kịch. Có chút gì đó hơi vội vàng và chưa tới, chưa… đã, chưa đủ… phê. Một chút hụt hẫng, một chút tiếc…

Hoặc cũng có thể vì phần sau “Bao giờ sông cạn” có hơi hướng của vở cải lương kinh điển “Tô Ánh Nguyệt” mà lời thoại của Đợi (lẫn chất giọng của người thể hiện nhân vật – suất tôi xem không phải do diễn viên Hùng Thuận) lại không thể chuyển tải sự giận dữ cũng như nỗi ân hận của đứa con đáng thương của số phận…

Hoặc như cảnh có thể lấy được sự thổn thức đến run rẩy mãnh liệt của khán giả là cảnh người vợ tên Mai chuyển biến từ ghen, buồn, kiềm chế, đến những khát khao đến đáng thương khi thể hiện “mình thương em nghe mình” đến giằng níu để có được một vòng tay, đến những uất ức vỡ òa không thành lời mà bằng chính tiếng kèn của chồng mình dành cho người phụ nữ khác. Giá mà chị Tuyết Thu cho phép mình giận dữ hơn khi ném khúc gỗ, giá mà thêm một chút đắng cay cho lời nói xót xa về tấm áo cưới, giá mà mở tung lồng ngực để thổi lên những hồi kèn ngắn mà thất thanh hơn, cào xé tâm can hơn như tiếng khóc vỡ òa của cô Thanh Thủy trong vai người vợ tên Hạnh trong vở “Hãy khóc đi em” – sau những “đỉnh cao” trơ trẽn và bỉ ổi của gã chồng bội bạc cùng người tình của hắn. Tiếng khóc ấy khép lại vở diễn nhưng lại mở ra vết thương lòng toang hoác, đủ sâu để ám ảnh khán giả trong một thời gian dài…

Ừ thì khóc đi – bởi không gào lên được, cứ thủ thỉ rằng:

“Ai cũng nói rằng: anh ấy nhớ dòng sông
Nhưng không, ảnh nhớ người tình cũ.
Hai người yêu nhau và nặng lời thề hẹn
Để bây giờ … ảnh hổng quên được người ta.”

Ừ thì khóc đi, không nức nở nghẹn ngào chứ người ta nghe mà đứt từng đoạn ruột: “Bà con cô bác ơi có ai biết vợ của chồng tôi đâu không làm ơn chỉ giúp, cho hai người gặp nhau để ảnh … vơi buồn.” Còn gì não nùng hơn thế nữa chứ, cái buồn của chồng đã rút mòn thân xác của người vợ nghĩa nhân. “Khi đêm về ảnh bó gối nhìn sông, nơi có con thuyền nhỏ và ngọn đèn dầu treo le lói. Anh nhớ con thuyền hay anh nhớ dòng sông, còn ngọn đèn kia kìa… nhớ ai mà thâu canh không ngủ ?…”

Thử hỏi nỗi đau của người trên bờ và nỗi đau của người dưới bến ai nhiều hơn ai. Nỗi đau nào đo được bằng chiều dài con sông, bằng thấp cao con nước, hay đơn giản bằng phép cộng trừ của những kẻ liên quan.

Có một hành động nhỏ thôi của người vợ tên Thà cuối vở – khi người chồng là Chờ gỡ mối dây neo thuyền đưa lại, cái chạm tay rất khẽ khàng, cũng là cái rụt tay vội vàng, rút vội sợi dây về phía mình để rồi rời bến ra đi… có chút gì đó rung động, có chút gì đó nén lòng, để không vỡ òa, để không tan vỡ – tất cả, tất cả đều được nén lại để giữ cho tình người luôn trọn vẹn trên bến sông không bao giờ cạn.

“Em hỏi anh có bao giờ anh thôi không còn yêu em, anh trả lời em rằng một ngày nắng hạn, sông kia cạn khô…”

Nhưng sông thì có bao giờ cạn. Mà đúng hơn vì tình người dành cho nhau thì vẫn luôn đầy.

nh bạn tôi hỏi khi biết tôi đi xem vở kịch này: “Em có câu trả lời chưa – bao giờ sông cạn?”. Tôi đã trả lời như thế. Anh lại hỏi: “Bi kịch do đâu mà có?”. Tôi nghĩ, mỗi người sẽ có một câu trả lời riêng. Với tôi và trải nghiệm thiển cận riêng mình tôi nghĩ phải chăng do các nhân vật yêu người mà số phận không dành cho mình (điều này không đồng nghĩa với việc được yêu hay không), yêu và chờ đợi vô điều kiện, vô vọng… Phải chăng, họ đã tròn nhân nghĩa nhưng đã không sống thật với lòng mình… Phải chăng, họ đã rất mạnh mẽ khi ở một khía cạnh nào đó họ chấp nhận cho mình mỗi người một nỗi đau, nhưng người chồng Chờ lại không đủ mạnh mẽ để bảo vệ người vợ tên Thà và đứa con tên Đợi, hay người vợ tên Mai không đủ mạnh mẽ để rời xa người chồng không trọn vẹn yêu thương, một ông Út suốt 18 năm ăn không thiếu gói mắm nào nhưng không đủ mạnh mẽ vượt qua nấm mồ quá khứ để đến với Tư mắm lỡ thì “vô hậu” mà nặng tình… Âu cũng là mỗi người một lựa chọn. Họ đã sống và chịu trách nhiệm về cuộc đời mình chọn. Và hạnh phúc khi tin rằng điều mình chọn là tốt cho nhiều người.

Ừ thì sông có thể vơi… Còn tôi vẫn sẽ đi xem kịch, sống với “thánh đường nghệ thuật” đầy nhân văn và chân – thiện – mỹ!

Chia sẻ bài viết và cảm nhận của bạn :

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Bản quyền thuộc vể tác giả! Vui lòng không copy vào trang khác.